Bỏ qua điều hướng
Hồ Chí Minh — Tiểu sử

Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Bối cảnh lịch sử, nguồn gốc hình thành (truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin, tài năng hoạt động thực tiễn) và quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh qua các thời kỳ.

I. Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

1. Tình hình quốc tế

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chỉ chín nước đế quốc đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của chúng. Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản — mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh một mâu thuẫn mới — mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân.

Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác — Lênin. Sự xuất hiện chủ nghĩa Lênin là một nhân tố đặc biệt quan trọng đối với việc ra đời và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918). Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, mở ra thời đại mới của lịch sử loài người — thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

Những nhân tố quốc tế nêu trên đã tạo những tiền đề và điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam phát triển với xu hướng và tính chất mới.

2. Tình hình Việt Nam

Giữa thế kỷ XIX (1858), Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập đã bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Kể từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt (6-6-1884), đại đa số nhân dân vẫn nung nấu ý chí căm thù và chờ thời cơ vùng lên tự giải phóng. Song, các phong trào kháng chiến đều bị dìm trong máu, lửa; sau thất bại của phong trào Cần Vương và các phong trào cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng đường lối.

Từ những bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và từng bước hình thành tư tưởng của mình, đáp ứng đòi hỏi bức thiết của dân tộc và thời đại.

II. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

1. Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trước hết là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống cần cù lao động, anh dũng chiến đấu trong dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, sống có tình, có nghĩa, nhân ái Việt Nam. Trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta."

Chính sức mạnh truyền thống ấy đã thúc giục Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Hồ Chí Minh viết: "Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba".

2. Tinh hoa văn hoá nhân loại: phương Đông và phương Tây

Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Đông. Người được theo học chữ Nho với các thầy vốn là những nhà Nho yêu nước; đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng, tình cảm của Người không phải là những giáo điều bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến, mà là tinh thần "nhân nghĩa", đạo "tu thân", sự ham học hỏi, đức "khiêm tốn". Trước khi đến với chủ nghĩa Mác — Lênin, Người đã nghiên cứu tư tưởng dân chủ tư sản Pháp, Mỹ, đặc biệt là Tự do, Bình đẳng, Bác ái, và chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông, phương Tây, nâng lên một trình độ mới trên cơ sở phương pháp luận mácxít — lêninnít.

3. Chủ nghĩa Mác - Lênin

Từ khi rời Tổ quốc (1911) cho đến năm 1917, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước thuộc địa và nhiều nước tư bản đế quốc. Năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp (SFIO). Việc Hồ Chí Minh tiếp thu bản Luận cương của Lênin tháng 7-1920 và trở thành người cộng sản vào cuối năm đó đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong tư tưởng của Người. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận cơ sở chủ yếu nhất của sự hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

4. Tài năng và hoạt động thực tiễn sáng tạo của Hồ Chí Minh

Ngay từ khi còn trẻ, Hồ Chí Minh đã có hoài bão lớn, có bản lĩnh kiên định, giàu lòng nhân ái và sớm có chí cứu nước. Tư chất thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo, ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới đã giúp Người tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát hình thành những luận điểm đúng đắn và sáng tạo, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh — một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

III. Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

1. Từ nhỏ đến khi ra đi tìm đường cứu nước (trước tháng 6/1911)

Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan. Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, Người đã hấp thụ truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc và những tinh hoa văn hoá phương Đông. Người nói: "Vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên tôi nghe những tiếng Pháp tự do, bình đẳng, bác ái... Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem Mẫu quốc ra sao và tôi tới Pari để học hỏi".

2. Thời kỳ tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, trở thành người cộng sản (1911 - 1920)

Tháng 7-1911, Hồ Chí Minh đặt chân lên đất Pháp, sau đó đến nhiều nước thuộc địa và đế quốc để tìm lời giải đáp cho câu hỏi lúc ra đi. Năm 1919, thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Vécxây "Yêu sách của nhân dân An Nam". Tháng 7-1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người tìm thấy con đường giải phóng dân tộc. Người viết: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao... Đây là con đường giải phóng chúng ta". Tháng 12-1920, Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.

3. Thời kỳ tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành về cơ bản (1920 - 1930)

Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của mình về nước qua các bài viết trên báo Người cùng khổ (1922), báo Thanh niên (1925), các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường Cách mệnh (1927)... chuẩn bị cho việc thành lập một Đảng cộng sản ở Việt Nam. Ngày 3-2-1930, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Người soạn thảo — Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, đánh dấu tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam đã hình thành về cơ bản.

4. Thời kỳ vượt qua khó khăn, thử thách, kiên định con đường đã chọn (1930 - 1941)

Dù đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh từng bị Quốc tế Cộng sản phê phán do chưa sát tình hình các nước thuộc địa, thực tiễn đã chứng minh đường lối đó là đúng đắn. Đến Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản (7-1935), quan điểm của Hồ Chí Minh về đoàn kết các lực lượng cách mạng chống đế quốc mới được thừa nhận. Ngày 28-1-1941, sau gần 30 năm xa Tổ quốc, Hồ Chí Minh về nước.

5. Thời kỳ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển (1941 - 1969)

Tháng 5-1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8, sáng lập Mặt trận Việt Minh, đưa Cách mạng Tháng Tám 1945 đến thắng lợi. Ngày 2-9-1945, Người đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), rồi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với chân lý bất hủ "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Trước khi qua đời, Người để lại bản Di chúc thiêng liêng — một di sản tư tưởng vô cùng quý báu của dân tộc và nhân loại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành, phát triển cùng chiều với quá trình phát triển của xã hội Việt Nam và thời đại, trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho đường lối chính trị đúng đắn của cách mạng Việt Nam — tài sản tinh thần quý báu của dân tộc và nhân loại.

Nguồn: hochiminh.vn (Văn phòng Trung ương Đảng), theo Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị - Hành chính, 2011.

TIN LIÊN QUAN